Cách học

Trần Đức Lĩnh

Thật sự cách học không không là một bài viết ngắn và đầy lắp những triết lý thành công.

Vậy học như thế nào cho hiệu quả? Một câu hỏi mà bản thân luôn muốn giải đáp nó càng sớm càng tốt, bời vì kiến thức ngoài kia rộng lớn thật.

I) Focused mode và diffuse mode

Con người có hai luồn suy nghĩ khác nhau đó là focused và diffuse.

Focused mode là khi bản thân tập trung tối đa vào một vấn đề nào đó muốn giải quyết hoặc rất muốn học một cái gì đó.

Diffuse mode thì nhẹ nhàng hơn, vẫn nghĩ ngơi thư giãn nhưng vẫn cay cú những vấn đề mà khi bản thân đã từng ở trạng thái Focused mode giải quyết chưa được.

Tìm hiểu kỹ thêm một chút ...

Focused mode là nguồn suy nghĩ sâu, tập trung vào trọng tâm vấn đề đang đối mặt. Trong khi diffuse mode thì suy nghĩ rộng ra, tìm nhiều hướng giải quyết vấn đề bản thân đang mắt kẹt.

Khi muốn học một cái mới, não bộ chắc chắn sẽ trải qua hai luồn suy nghĩ này. Bản thân nên nhớ, thời gian suy nghĩ tập trung tối đa khi ở trạng thái lý tưởng thường là 25 phút sau mỗi giai đoạn trong ngày, còn thời gian suy nghĩ rộng khi chưa giải quyết vấn đề thông thường lý tưởng nhất là trong giấc mơ.

II) Procrastination - Sự trì hoãn

Trạng thái này thông thường ai cũng có cã. Vậy bản thân muốn giảm thiểu thì sẽ như thế nào?

Xê dịch một chút, điểm mấu chốt ở đây không phải những câu triết lý 30 ngày làm thay đổi chúng ta hoặc 1000 câu nói bất hủ giúp chúng ta thành công hơn ... Đừng bao giờ đọc chúng, bởi vì bản thân không biết mấu chốt của não bộ trước và sau đó sẽ làm gì.

Quay lại vấn đề.

Các kế hoạch đầu tư rất tỉ mỹ nhưng cuối cùng không thực hiện được. Nguyên nhân?

Khi chuẩn bị bắt đầu làm một việc gì đó khó khăn hơn một chút hoặc gây sợ hãi (đạp xe lúc 4 giờ sáng khi trời lạnh ... )

Những suy nghĩ đoán trước đó vô tình kích thích vùng não kiểm soát cảm xúc liên quan đến đau khổ, khó chịu. Lúc nào mặc nhiên vùng trung tâm sẽ tìm cách chấm dứt kích thích điều đó bằng cách hướng suy nghĩ của bản thân đến một điều dễ chịu hơn như (đạp xe 4 giờ lạnh thật thôi thì 5 giờ vậy, cuối cùng 10 giờ sáng dậy đạp xe đi mua đồ ăn trưa)

Bản thân không thể gỡ bỏ luồn suy nghĩ tiêu cực đó được, nên nhớ bộ não đã trải qua và tiến hoá rất lâu và cho đến bây giờ vẫn còn chút ít cái cách suy nghĩ đó của tổ tiên.

Khi bản thân muốn chấm dứt cảm giác đó rất đơn giản, hãy thực hiện các kế hoạch đó trong 5 phút đầu tiên. Lúc này mọi thứ sẽ trở nên hưng phấn, bản thân sẽ cảm thấy hứng thú và cảm giác đau khổ, khó chịu sẽ biến mất.

Nên nhớ bộ não luôn hướng đến những hành động dễ chịu hoàn toàn là tự nhiên.

  • Khát thì uống nước
  • Đói thì tìm đồ ăn trong tủ lạnh
  • Chó rượt thì chạy

Tất cả các quyết định trên đều xảy ra tự nhiên và có ẢNH HƯỞNG NGAY LẬP TỨC đến cuộc sống. Mọi hành động, mọi quyết định luôn ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi cá thể được gọi với thuật ngữ Immediate Return Enviroment.

Thế điểm mấu chốt ở xã hội hiện nay ảnh hưởng đến hành động và quyết định của bản thân tạo nên sự trì hoãn là gì?

KHÔNG MANG LẠI LỢI ÍCH NGAY LẬP TỨC

  • 5 từ vựng tiếng anh trong 1 năm
  • Tập gym trong 3 tháng
  • Tiết kiệm tiền đến lúc cưới vợ chẵng hạn

Vấn đề đã được tìm thấy. Môi trường bản thân đang sống được gọi với thuật ngữ Delayed Return Enviroment, và tất nhiên bộ não không thiết kế để hoạt động trong môi trường này.

Tìm hiểu kỹ hơn cách thức hoạt động của não bộ.

Vùng não mang tên Neocortex nằm trên đỉnh đầu, phần này phát triển nhất (nếu không phát triển thông thường giáo viên các cấp hoặc phụ huynh sẽ dùng ngón tay cú thật mạnh vào để tạo sự kích thích vùng này trơn tru hơn) chịu trách nhiệm các tác vụ rất phức tạp bao gồm ngôn ngữ và khoa học.

Nhưng xã hội mới chuyển qua môi trường Delayed Return chưa đến 500 năm. Mọi thứ phát triển quá nhanh, về mặt tiến hoá thì con số đó không mang ý nghĩa gì trong khi Immediate Return đã tiến hoá và thích nghi được mấy triệu năm trước.

Về lý trí bản thân vẫn biết điều gì tốt, điều gì nên làm. Tự hứa sẽ học một chút gì đó nhưng rồi không làm được, khi đã hiểu được vấn đề bản thân sẽ hạn chế được việc trì hoẵn thay vì đọc dăm ba câu triết lý suông trên mạng xã hội.

Habit - Thói quen

Thói quen là thứ rất khó hình thành khi không có sự quyết tâm bền bỉ...

III) Anxiety - Sự lo âu

Tạm gác hết những âu lo lại
Cùng anh bước trên con đường
Ta sẽ không quay đầu
Để rồi phải tiếc nuối những chuyện cũ đã qua
Giữ trái tim luôn yên bình
Và quên hết những ưu phiền vấn vương
Cuộc đời này được bao lần nói yêu ...
(GÁC LẠI ÂU LO - DA LAB X MIU LÊ)

Bài hát này đang nói về nỗi lo âu mà môi trường Delayed Return mang lại cho bản thân. Những điều mà bản thân phải nhận trong xã hội hiện nay do không tương thích với môi trường của bộ não mang lại.

Quay về môi trường Immediate Return khi con người đối mặt với lo âu và khó khăn.

  • Khi cơ thể khát nước, nếu không tìm thấy nước cơ thể sẽ đối mặt với cái chết, nhưng sau khi tìm thấy nước và giải quyết cơn khát nỗi lo âu sẽ mất đi.
  • Khi cơ thể cảm thấy đói, bộ não sẽ thôi thúc đi tìm thức ăn hoặc cái chết sẽ tìm đến, nhưng sau khi tìm thấy thức ăn và giải quyết được cơn đói nỗi lo âu sẽ mất đi.

Nỗi lo đóng vai trò rất quan trọng, giúp bản thân đưa ra quyết định và bảo vệ khi ở trong môi trường Immediate Return. Các vấn đề được giải quyết mang tính chất tức thì, ngắn hạn. Khác xa với những nỗi lo mà bản thân phải chịu đựng kéo dài như hiện nay.

  • Sẽ ra sao nếu rớt ở đợt phỏng vấn tới?
  • Không biết rõ mối tình này sẽ đi đến đâu?
  • Làm sao để có thể mua nhà trong 2 năm tới?

Bản thân luôn lo lắng đến các vấn đề tương tự, nhưng những vấn đề đó thường xảy ra ở môi trường Delayed Return.

Có những nguyên nhân lớn dẫn đến nỗi lo không chắc chắn ở xã hội này.

  • Làm việc ngày đêm có đủ tiền mua nhà trong 2 năm?
  • Có dắm chắc bạn gái sẽ dọn qua sinh sống trọn đời với nhau trong cái nhà to bự đó?

Mọi thứ bao trùm bởi sự không chắc chắn, vô định và bất ổn.

Measurement - Đo lường

Bản thân có thể làm ngay bây giờ là đo lường, ước tính những gì phải làm để đạt được. Ước tính xem bản thân sẽ phải giành dụm được bao nhiêu tiền trong một tháng, sau 2 năm sẽ là bao nhiêu. Bản thân cũng không thể biết tương lai mối tình đó sẽ như thế nào, nhưng bản thân có thể cảm nhận được tình cảm của cả hai, biết được bản thân đang ở đâu trong mối tình này.

Sự đo lường này giúp những việc không chắc chắn trở nên có căn cứ và có cái nhìn rõ ràng hơn ở hiện tại và những vấn đề trong tương lai.

Shift your worry - Chuyến hướng nỗi lo

Sau khi hiểu rõ cách hoạt động của não bộ, hãy tìm cách làm như thế nào vừa đạt được mục đích vừa có thể cảm thấy thoã mãng trong trí não.

Đơn giản thôi, hãy chuyễn nỗi lo âu dài hạn thành những hành động hằng ngày mà bản thân có thể giải quyết nỗi lo dài hạn đó và tập trung vào chúng. Não bộ rất thích làm những công việc mang tính chất tức thời, vì thế hãy làm những việc mà vừa cảm thấy thoã mãng vừa giúp đạt được những mục tiêu dài hạn.

Thay vì lo lắng sức khoẻ về già tại sao không rèn luyện sức khoẻ mỗi ngày?
Thay vì lo lắng có đủ tiền hay không tại sao không tiết kiệm từng ngày?
Thay vì lo lắng chuyện tình cảm tại sao không trân trọng và giành cho nhau những giây phút ngọt ngào?

Thay vì lo lắng, hãy tập trung vào hành động. Đều đặn, điều độ và tập trung.

IV) Practice makes permanent - Tập luyện sẽ hoàn thiện

Khi học một thứ gì đó mới mẻ, bản thân thường cảm thấy những chủ đề đó càng trừu tượng thì càng khó tiếp thu. Triết học và tâm lý học khó tiếp thu hơn sinh lý học hoặc các nghành mà bản thân đang muốn hướng đến.

Ví dụ trong tiếng anh, những danh từ, động từ lại dễ nhớ hơn những tính từ? Bởi vì bản thân có thể liên tưởng đến một cái gì đó cụ thể. Vậy tại sao những vấn đề trừu tượng như tình yêu thì lại có thể hiểu một cách dễ dàng. Bởi vì những chủ đề đó liên quan đến cảm xúc, mà cảm xúc thì bản thân có thể cảm nhận được. Đôi khi cảm xúc còn dễ giành ghi nhớ hơn cã những gì ta hình dung đến một thực thể.

Để học một cái gì đó mới, cái gì khó hiểu và khó liên tưởng đến chủ đề khác, bản thân cần phải luyện tập nhiều và luyện tập đúng.

Vì nếu không luyện tập nhiều và luyện tập đúng rất cỏ thể gây lãng phí thời gian cho bản thân.

Hãy cứ luyện tập, rồi bản thân sẽ hoàn thiện.

V) Working memory & long term memory

Working memory là vùng nhớ xử lý thông tin ngay tại thời điểm này. Khi bản thân đang soạn và viết những dòng này thì bộ não đang xử lý ở working memory. Và tất nhiên các vùng nhớ điều có liên kết với nhau, nhưng khác hẵn các vùng nhớ khác, working memory chỉ có khích thước giới hạn và chỉ lưu được khoảng 4 chuỗi thông tin và sẽ nhanh chóng quên đi sau một khoảng thời gian ngắn.

Bản thân nên tận dụng tối đa vùng nhớ này trong quá trình tập trung, ngăn chặn và đừng để các thông tin khác chiếm chỗ.

Long term memory thì có vùng nhớ rộng hơn rất nhiều, chứa đựng mọi thứ và không xắp xếp ngăn nắp. Vùng nhớ từ working memory muốn được lưu tại vùng này cần trải qua quá trình tìm hiểu - ghi nhớ - ôn tập nhiều lần. Nhưng nếu bản thân chỉ học qua loa và cũng không gặp lại từ đó trong khoảng thời gian dài, lúc này não bộ chỉ nhớ đã học rồi nhưng không thể hình dung ra. Tất nhiên những gì bản thân đã học vẫn còn đó nhưng không nhớ rõ chúng đang ở đâu và ở vị trí nào.

Muốn có một kiến thức thật củng cố và vững chắc, có một phương pháp được gọi là spaced repetition. Nó cũng là dạng lặp đi lặp lại kiến thức đã học nhưng dưới dạng 1 ngày - 1 tuần. Hình dung như việc chờ đợi lớp gạch bên dưới khô đi và xây tiếp 1 lớp gạch mới vậy.

VI) The important of sleep - Sự quan trọng của giấc ngủ

Cơ thể thường tiết ra các độc tố trong não? Vậy bằng cách nào não có thể thanh lọc độc tố này?

Khi ngủ cơ thể các tế bào trong não co lại tạo nên các khoảng trống, các chất lỏng cuốn trôi các độc tố này giúp thanh lọc não bộ. Vì thế bản thân nên chú ý đến việc ngủ cho đủ giấc, không những thế não vẫn còn ở trạng thái diffuse mode. Lúc ngủ não sẽ tổng hợp các thông tin lúc bản thân đã thức, xoá bỏ các thông tin không qua trọng và cũng cố các thông tin trọng tâm, nhưng muốn có được các thông tin trọng tâm này bản thân phải thật sự tập trung ở trạng thái focused mode trước đó.

Hãy tập thói quen ngủ đủ và ngủ sâu.

VII) Chunk - Chuỗi thông tin

Những thông tin được liên kết với nhau một cách có ý nghĩa và tái sử dụng chúng trong tương lai. Khi bản thân học một diều gì đó mới, một khi chưa hiểu được một vấn đề nào đó khi đang học thường sẽ rất khó nhớ cũng như rất khó để vận dụng lượng kiến thức đó vào thực tế. Lúc này bản thân nên xem xét, liên kết các kiến thức rời rạc và xâu chuỗi những gì đã học lại với nhau.

Một khi bản thân cố ghi nhớ kiến thức mới mà không thể hiểu gì về nó thì đó là học vẹt, rất rõ ràng các liên kết đó sẽ không bao giờ chắc chắn được. Bản thân sẽ nhanh chóng quên đi và không thể vận dụng nó sau này.

Cho dù bất kể bản thân học một lĩnh vực hay một chủ đề nào chăng nữa, trước tiên phải hiểu rõ học để làm gì, có vận dụng vào cuộc sống không? Có thoã mãng sự thích thú không? Từ đó sẽ xâu chuỗi các thông tin đã học từng giai đoạn.

VIII) How to form a chunk? - Cách xâu chuỗi thông tin?

Như đã đề cập phía trên, bản thân cần có cái nhìn tổng quan về những thứ muốn học, nhìn nhận và đánh giá mục đích muốn học là gì để có cái nhìn sơ bộ về sự kết nối.

Chuỗi thông tin thực chất là một chuỗi neuron thần kinh liên kết với nhau và được kích hoạt đồng thời giúp suy nghĩ, hành động trở nên trơn tru hơn. Khái niệm này áp dụng cho cả các môn trí tuệ và các môn thể chất.

Khi bản thân học một loại nhạc cụ ví dụ như guitar chẵng hạn, đầu tiên cần phải biết được các sợi dây đàn có chứa những nốt nào, có tất cã bao nhiêu nốt từ dây bự nhất nến dây mỏng nhất trong 12 ngăn? Từ những kiến thức nhỏ bé đó bản thân có thể tự tính ra các hợp âm chuẩn cho một bài hát.

Sau khi bản thân có thể thực hiện và phối hợp những kiến thức cũng như hành động một cách trơn tru, từ đó tạo ra một bản năng, phản xạ đã được hình thành và liên kết chặc chẽ với nhau.

Đó chính là tập luyện.

Các chuỗi neuron thần kinh liên kết với nhau thông qua tập luyện.

Buộc bản thân phải thật sự tập trung, đừng bao giờ vừa học vừa check tin nhắn. Một điều quan trọng đó là các thông tin có thể liên kết, xâu chuỗi với nhau khi và chỉ khi bản thân đã thực sự hiểu nó. Bản thân không thể liên kết các thông tin mà chính bản thân bạn không hiểu, cho dù bản thân cố gắn liên kết được đi chăng nữa thì vẫn không thể vận dụng được.

Cho nên muốn học được những điều mới, hãy nắm vững những kiến thức cơ bản, nền tảng nhất. Từ đó giúp bản thân vững vàng hơn khi tiếp cận các kiến thức nâng cao.

Mục tiêu cuối cùng khi bản thân học một điều gì đó mới là bản thân phải biết cách vận dụng nó.

IX) Illusions of competence - Đừng ảo tưởng về khả năng

Một trong những cách phổ biến để học một điều mới là đọc + ghi chú và làm bài tập. Nhưng đọc như thế nào mới là quan trọng?

Có phải đọc qua loa? Điểm mấu chốt là khi bản thân tập trung để tóm tắt nội dung của bài học, thì lúc này các liên kết neuron sẽ trở nên chặt chẽ hơn.

Nếu cảm thấy nhắm mắt và nhớ lại là quá khó thì có thể mở mắt ra và chép ra giấy.

Liệt kê trên giấy sẽ dễ hơn rất nhiều, kết hợp với phương pháp vẽ bản đồ tư duy. Nhưng bản thân phải thực sự hiểu từng ý nhỏ nhất, cơ bản nhất trước khi liên kết với nhau, nếu không việc học nâng cao lên sẽ rất khó khăn.

Thật sự không ai có thể nắm vững một vấn đề mới một cách vững chắc trong một khoảnh khắc. Hãy luyện tập và luyện tập, cho dù kết quả như thế nào thì đều chứng tỏ bản thân chưa thực sự hiểu và vận dụng được kiến thức đã học. Hãy học lại một cách nghiêm túc.
Có thể bản thân suy nghĩ rằng đã hiểu, nhưng thật sự thì không phải vậy. Không sao, hãy kiểm tra và làm lại một lần nữa. Lúc này kiến thức sẽ in sâu trong trí nhớ. Vậy nên, làm sai không có gì đáng sợ cã.

Hãy chú ý đến quá trình học, xin đừng ảo tưởng và đừng sợ sai.

X) Where Does Motivation Come From? - Động lực đến từ đâu?

Khi học các lĩnh vực mà bản thân thích, thời gian trôi rất nhanh, còn đối với vài lĩnh vực ít liên quan mà bản thân không thích thì thời gian bị kéo dài ra. Tại sao lại như vậy?

Bộ não có một hệ thống các chất neuromodulator - tác nhân điều biến thần kinh. Hệ thống này không chỉ lưu giữ thông tin về các trải nghiệm mà còn chứa thông tin về giá trị cũng như vai trò của những trải nghiệm đó.
Hệ thống này bao gồm các chất hoá học có ảnh hưởng đến các neuron thần kinh tương tác với nhau:

  • Acetylcholine
  • Serotonin
  • Dopamine

Acetycholine giúp tập trung, Những thông tin được xử lý ở working memory được lưu vào trong long term memory. Chất này sẽ tiết ra nhiều khi khả năng tập trung cao độ lâu dài.

Serotonin điều khiển đến cảm xúc và ảnh hưởng nhiều đến xã hội. Cảm xúc đóng vai trò không nhỏ đến quá trình học.

Dopamine có chức năng kiểm soát phần não điều khiển sự dễ chịu và tưởng thưởng. Chất này giúp bản thân nhìn thấy được những lợi ích mang lại trong tương lai khi thực hiện một số hành động và thúc đẩy bản thân thực hiện hành động đấy. Động lực là đây.

XI) Benefits of Reading Books - Lợi ích của việc đọc sách

Nên tạo cho bản thân đọc sách để có thêm nhiều kiến thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Đọc sách không ngừng để hiểu sâu hơn về những kiến thức mà bản thân biết, một điều đáng lưu ý là đọc càng nhiều, biết càng nhiều thì học điều mới dễ dàng hơn.

Khi học một điều gì đó mới bản thân luôn liên tưởng, liên hệ với những kiến thức vốn đã có trước đó.

Muốn tìm cách để giải quyết một vấn đề nào đó, sẽ có hai hướng tiếp cận chính.

Đi từng bước, tuần tự một cách có logic để tìm ra lời giải. Hướng này đòi hỏi phải tập trung ở từng bước, tìm kiếm những thông tin, những gợi ý để tiếp tục ở các bước tiếp theo.

Đựa vào cảm giác, dựa hoàn toàn vào trạng thái diffuse mode (trạng thái thư giãn và cay cú). Muốn thấu hiểu những vấn đề hoàn toàn mới khi mà tư duy logic không đủ để suy luận.
Lúc này bản thân cần một chút sáng tạo, một chút mông lungliên tưởng đến kiến thức đã có. Và tất nhiên không phải lúc nào cũng tìm ra được đáp án.

Nhưng kiến thức càng nhiều thì chắc chắn sẽ học càng nhanh hơn.

XII) Overlearning, Einstellung & Interleaving

Overlearning mang lại cảm giác khó khăn nhưng sau đó lại trở nên thành thục và cảm giác thích thú, cảm giác chinh phục, từ đó thúc đẩy bản thân luyện tập nhiều hơn.

Overlearning có cã mặt tốt và mặt xấu, ví dụ như những người biết cách khui bia bằng đũa, lúc này bộ não thôi thúc làm đi, làm đi ... kết quả khui đầy bàn. Sự luyện tập ở cùng một mức độ này không giúp khả năng lặp lại này trở nên thành thục hơn.

Điều quan trọng là nó gây ra sự lần tưởng và đưa ra một luồn suy nghĩ "ảo tưởng về khả năng".

Einstellung được bắt nguồn từ Overlearning, đây là kiểu tiếp cận vấn đề theo lối mòn sẵn có, những lối mòn này hình thành từ quá trình overlearning.

Nhắc lại, khi học một chủ đề mới, việc thấu hiểu những khái niệm cơ bản vô cùng quan trọng. Và mục tiêu cuối cùng khi học một điều gì đó mới là phải biết cách vận dụng chúng vào cuộc sống. Muốn tránh khỏi tư duy lối mòn này mang tên Interleaving.

Interleaving mang thiên hướng tiếp cận bài giảng theo cách đọc + làm và chuyển sang chương tiếp theo sau khi đạt đến một mức độ thuần thục có thể chấp nhận được, các kỹ năng này được lặp đi lặp lài cùng một lúc.


Breaking in a Path liên quan đến kỹ thuật Block practicing, kỹ thuật mang thiên hướng tiếp cận bài giảng theo cách đọc tất cả các chương sau đó làm tất cả các chương, lúc này não bộ chỉ nhớ những kiến thức lần đầu và tiếp tục các phần tiếp theo, không có sự liên kết chặc chẽ giữa đọc + làm.

Stop and Go Traffic liên quan đến xử lý một vấn đề nối tiếp đến một vấn đề khác liên quan, lúc này não bộ sẽ có xu hướng dự đoán biết được cái gì sẽ xảy ra tiếp theo, nên mọi thứ sẽ trở nên dễ dàng. Điều này cũng không thực sự tốt khi bản thân sẽ không biết được những kiến thức nào thích hợp sử dụng trong những tình huốn nào, không thể hiểu sâu hơn.

XIII) The law of Serendipity - Luật Serendipity

Luật này giúp động viên bản thân không ngừng cố gắn và tin tưởng vào sự cố gắn của mình. Cuộc sống này không vốn dĩ công bằng. Mỗi con người đều có điểm mạnh và điểm yếu cũng như chỉ số thông minh khác nhau, may mắn cũng không phải là một điều gì đó quá tự hào. Thông minh cũng không phải là điều gì đó quá tự hào, sự cố gắn mới là thứ đáng tự hào nhất. Hãy luôn cố gắn và hãy tự hào vì điều đó.